Kinh Ma Lợi Chi Thiên Marichi
Hán dịch
Đại Sư Bất Không Kim Cang Amogha Vajra,
thời Đường
Việt dịch của Huyền Thanh
*
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Thế Tôn (Bhagavan) ngự tại vườn Thệ Đa Cấp Cô Độc trong thành Thất La Phiệt.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ Khưu: “Có vị Thiên Nữ tên là Marichi (Ma Lợi Chi) có có sức Đại Thần Thông Tự Tại, thường đi trước mặt trăng, mặt trời của Nhật Thiên, Nguyệt Thiên mà Nhật Thiên, Nguyệt Thiên chẳng thể nhìn thấy vị ấy. Nhưng vị ấy lại có thể nhìn thấy mặt trời. Không người nào có thể nhìn thấy, không người nào có thể biết, không người nào có thể đuổi bắt, không người nào có thể trói buộc, không người nào có thể hại, không người nào có thể bịa chuyện dối trá, không người nào có thể nợ nần tài vật của vị ấy, không người nào có thể trách phạt, chẳng bị oan gia được dịp thuận tiện hãm hại”
Đức Phật bảo: “Này các Tỳ Khưu ! Nếu có người biết tên của vị Trời Marichi Ma Lợi Chi ấy, thường ghi nhớ thì người ấy cũng chẳng thể bị nhìn thấy, cũng chẳng thể biết, cũng chẳng thể đuổi bắt, cũng chẳng thể trói buộc, cũng chẳng thể hại, cũng chẳng thể bịa chuyện dối trá, cũng chẳng bị người nợ nần tài vật, cũng chẳng bị người trách phạt, cũng chẳng bị oan gia được dịp thuận tiện hãm hại.
Nếu có thiện nam tử, tín nữ tử nào biết Thánh hiệu của vị trời Ma Lợi Chi Marichi, cầu xin gia hộ thì nên nói lời này:
"Con (Họ tên…) biết Thiên Mẫu Bồ Tát Ma Lợi Chi Marichi có Đại Thần Lực! Nay con quy mệnh, nguyện hãy hộ thân con, không người nào có thể nhìn thấy con, không người nào có thể đuổi bắt con, không người nào có thể trói buộc con, không người nào có thể hại con, không người nào có thể bịa chuyện lừa dối con, không người nào có thể nợ nần tài vật của con, không người nào có thể trách phạt con, cũng không bị oan gia được dịp thuận tiện hãm hại con!”
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói Đà La Ni là:
NAMO RATNA TRAYÀYA
TADYATHÀ: ARKA MASI, MARKA MASI, SHUDDHA MASI, JVALA MASI, MAHÀ JVALA MASI, ANTAR DHÀNA YA MASI, MARÌCÌ YA MASI, NAMO STUTE, RAKSA RAKSA MÀM, SARVA SATTVÀ NÀMCA _ SARVATRÀ SARVA BHAYA UPA DRAVE BHYAH _ SVÀHÀ.
Tạm dịch ý nghĩa bài chú: (Thần chú có rất nhiều mật nghĩa ẩn bên trong, dịch chữ nghĩa chỉ lược một phần ý nghĩa nên gọi là tạm dịch)
NAMO RATNA TRAYÀYA: Con xin quy y Tam Bảo (Phật – Pháp - Tăng).
TADYATHÀ: Liền nói chú rằng (mở đầu phần cốt lõi của thần chú).
ARKA MASI, MARKA MASI...: Đây là các danh hiệu hoặc các trạng thái năng lượng của Đức Ma Lợi Chi (Marici). "Masi" có nghĩa là "ánh sáng" hoặc "sự hiện hữu", “thanh tịnh”.
JVALA MASI, MAHÀ JVALA MASI: Ánh sáng rực rỡ, ánh sáng đại quang minh.
ANTAR DHÀNA YA MASI: Năng lượng của sự "ẩn thân" (đặc tính tiêu biểu của vị Đại Bồ Tát Thiên Mẫu này là không ai có thể nhìn thấy, bắt bẻ hay hãm hại được Ngài).
NAMO STUTE: Con xin đảnh lễ Ngài!
RAKSA RAKSA MÀM: Xin hãy bảo vệ, bảo vệ cho con! (Màm).
SARVA SATTVÀ NÀMCA: Và bảo vệ cho tất cả chúng sinh.
SARVATRÀ SARVA BHAYA UPA DRAVE BHYAH: Khỏi tất cả nỗi sợ hãi, tai nạn và sự hãm hại ở khắp mọi nơi.
SVÀHÀ: Thành tựu viên mãn (Lời kết thúc thường thấy trong các bài chú).
_ Tâm Chú:
NAMAH SAMANTA BUDDHÀNÀM
OM_ MARÌCÌ _ SVÀHÀ
Tạm dịch:
Xin kính lễ toàn thể chư Phật
Tôi hòa tan vào Pháp giới vũ trụ trở thành Đức Marichi Ma Lợi Chi thành tựu viên mãn!
Khi Đức Thế Tôn nói Đà La Ni này xong liền bảo các Tỳ Khưu: “Nếu có người thọ trì Pháp Kinh này thì nên tác Nguyện:
Trong nạn vua chúa, hộ con!
Trong nạn giặc cướp, hộ con!
Trong nạn đi đường, hộ con!
Trong nạn bị lạc lối trong chốn hoang vắng, hộ con!
Trong nạn nước lửa, hộ con!
Trong nạn quân trận binh đao, hộ con!
Trong nạn Quỷ Thần, hộ con!
Trong nạn thuốc độc, hộ con!
Trong nạn ác thú, hộ con!
Trong nạn trùng độc, hộ con!
Trong nạn tất cả oan gia người ác, hộ con!
Chân Ngữ của Phật hộ con!
Chân Ngữ của Pháp hộ con!
Chân Ngữ của Tăng hộ con!
Chân Ngữ của chư Thiên hộ con!
Chân Ngữ của Tiên Nhân hộ con!
Tất cả xứ tất cả thời, nguyện thường hộ con!
Đệ tử (Họ tên là…) Svaha!”
Đức Phật bảo: “Này các Tỳ Khưu! Nếu kẻ trai lành, tín nữ, Tỳ Kheo (Bhikshu), Tỳ Kheo Ni (Bhishuni), cư sĩ nam (Upasaka), cư sĩ nữ (Upasika), Quốc Vương, Đại Thần, Tất cả hàng người… có các nạn thời thường nên chí tâm tụng Ma Lợi Chi Thiên Marichi Đà La Ni này, chẳng đợi dụng công, tùy tụng tùy thành, mau lìa các nạn, trừ kẻ chẳng chí tâm.
Khi trì tụng thời kết Bản Ấn, dùng hương xoa tay. (Kết ấn phải có Thầy và truyền thừa ban truyền quán đảnh, thọ trì giới luật nghiêm mật. Tu Mật tông buộc phải có tri kiến thanh tịnh, truyền thừa và Đạo Sư thanh tịnh cùng giới luật đủ đầy oai nghi. Các chư vị Bổn Tôn, Hộ Pháp công minh, giữ gìn oai nghiêm Tam Giới, khước tà vệ chân, không thủ hộ và không dung thứ cho các hành vi sai trái, tâm ý tư lợi, không vì lòng đại bi và lợi ích vô tư cho toàn thể chúng hữu tình)
Trước tiên kết Tam Bộ Tâm Ấn: Hai tay cài chéo các ngón bên trong rồi nắm lại thành quyền, kèm dựng song song hai ngón cái. Nhất Thiết Như Lai Tâm Ấn Chân Ngôn ấy là:
OM _ JINA JIK
_ Tiếp kết Liên Hoa Bộ Tâm Ấn: Như Ấn trước, co ngón cái trái vào trong lòng bàn tay, dựng thẳng ngón cái phải. Chân Ngôn là:
OM _ AROLIK
_ Tiếp kết Kim Cương Bộ Tâm Ấn: Như Ấn lúc đầu, co ngón cái phải vào trong lòng bàn tay, dựng thẳng ngón cái trái. Chân Ngôn là:
OM _ VAJRA DHRIK
_ Tiếp kết Hộ Thân Như Lai Quyền Ấn: Tay phải, co ngón cái nằm ngang trong lòng bàn tay, 4 ngón còn lại nắm ngón cái thành quyền. Đem Quyền Ấn này gia trì 5 nơi trên thân của mình, trước tiên là vầng trán, vai phải, vai trái, trái tim, cổ họng, mỗi một nơi đều tụng Chân Ngôn một biến. Chân Ngôn là:
OM _ BHUH JVALA HÙM
_ Tiếp kết Ma Lợi Chi Thiên Căn Bản Ấn: 2 ngón út, 2 ngón vô danh, bên phải đè bên trái cùng cài chéo nhau, dựng thẳng 2 ngón trỏ cùng vịn nhau, 2 ngón giữa đều đặt ở lưng ngón trỏ hướng về phía trước mặt sao cho đầu ngón vịn nhau, kèm dựng song song 2 ngón cái liền thành. Kết Ấn để ngang tâm luân, tụng Ma Lợi Chi Thân Đà La Ni với Tâm Chú lúc trước , mỗi Chân Ngôn đều tụng bảy biến, mỗi biến co 2 ngón cái triệu mời, cũng gọi là Cung Thỉnh Ấn kèm dùng Ấn gia trì 5 nơi trên thân rồi bung xả Ấn trên đỉnh đầu.
_ Tiếp kết Đại Tam Muội Gia An Tịch Trừ Kết Giới: Tay phải đem ngón cái vịn trên móng ngón út, dựng thẳng 3 ngón còn lại như hình chày Tam Cổ. Tay trái nắm Kim Cương Quyền đè ở trên tâm luân. Tùy tụng Chân Ngôn, đem tay phải ấn ở trên đỉnh đầu, chuyển bên trái 3 vòng tịch trừ tất cả loài gây chướng nạn, liền chuyển bên phải 3 vòng và quơ bên trên bên dưới tức thành kết Thập Phương Giới. Tất cả hàng Trời, Rồng, Người, Phi Nhân chẳng thể đến gần. Chân Ngôn là:
OM _ SAM KARE MAHÀ SAMAYAM _ SVÀHÀ
_ Tiếp kết Ma Lợi Chi An Đát Đản Na Ấn (Đây gọi là An Hình_ Antardhàna): Tay trái hư chưởng nắm quyền, ngón cái hơi vịn móng ngón trỏ, 3 ngón còn lại nắm quyền khiến cho kín đáo. Lại khiến trong lòng bàn tay rỗng không rồi đặt trước tâm luân của mình. Tưởng thân mình nhập vào Tạng bên trong chỗ rỗng không của Ấn này. Tay phải để lòng bàn tay bẳng phẳng, liền che trên chỗ rỗng không tay trái. Tưởng Ấn này tức là Thân của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Tự thân của Ta ẩn tàng ở trong tâm của Ma Lợi Chi Thiên Bồ Tát. Một lòng chuyên tâm trì chú chẳng gián đoạn, tụng Căn Bản Chú với Tâm Chú lúc trước, chẳng hạn định biến số, chỉ cần kiền thành chí tâm, ắt được Bồ Tát dùng uy thần gia hộ. Tất cả oan gia, người ác đều chẳng thể nhìn thấy. Tất cả tai nạn thảy đều được giải thoát.
Nếu muốn cùng dường Ma Lợi Chi Bồ Tát. Nên dùng vàng, hoặc bạc, hoặc đồng đỏ, hoặc gỗ cây Bạch Đàn, hoặc gỗ cây Tử Đàn… khắc làm tượng Ma Lợi Chi Bồ Tát như hình Thiên Nữ, có thể dài nửa tấc, hoặc một tấc hai tấc trở xuống. Ở trên hoa sen hoặc đứng hoặc ngồi, đầu đội mão, đeo anh lạc, mọi thứ trang nghiêm khiến cho thật đoan chính. Tay trái nắm Thiên Phiến (cái quạt), Cây quạt ấy như Duy Ma Kết Thiên Nữ Phiến (quạt của Thiên Nữ trong Kinh Duy Ma Cật). Tay phải rũ xuống dương lòng bàn tay hướng ra bên ngoài, dương 5 ngón tay làm thế Dữ Nguyện Ấn. Có 12 Tiên Nữ đều cầm Bạch Phất (Cây phất trần trắng) đứng hầu hai bên trái phải.
Làm Tượng này xong, đội ở trên đỉnh đầu hoặc đeo trên cánh tay, hoặc để trong áo. Dùng sức uy thần của Bồ Tát nên chẳng gặp tai nạn. Đối với nơi chốn của kẻ oan gia thì quyết định được thắng. Quỷ Thần, người ác không có dịp thuận tiện hãm hại.
Nếu muốn thành nghiệm, nguyện thấy Chân Thân của Ma Lợi Chi Thiên để cầu Thắng Nguyện thì tụng Đà La Ni này mãn 10 vạn biến, y theo Pháp kiến lập Mạn Đà La (Mandala: Đàn Tràng), vẽ tượng Ma Lợi Chi Bồ Tát đặt ở trong Đàn rồi đem mọi thứ cúng dường và tác Hỏa Đàn Hộ Ma thì Ma Lợi Chi Thiên Nữ sẽ hiện thân, quyết định mong cầu Thắng Nguyện, chỉ trừ kẻ chẳng chí tâm”
Đức Phật bảo: “ Này các Tỳ Kheo! Ta vì nạn khổ đáng sợ của chúng Hữu Tình trong đời ác sau này, nên mới lược nói Pháp Ma Lợi Chi Thiên. Vị Bồ Tát này có Nguyện Đại Bi, thường ở nơi nạn khổ đáng sợ, hộ giúp các Hữu Tình chẳng để cho Trời, Rồng, Quỷ Thần, Người, Phi Nhân, oan gia, thú ác có thể gây hại. Các ông nên thọ trì, rộng nói lưu bố nhằm nhiêu ích cho các Hữu Tình!”
Hàng Tỳ Kheo, tám Bộ Trời Rồng, tất cả Đại Chúng nghe lời Phật dạy đều rất vui vẻ, tín thọ phụng hành.
_Hết_